UỐNG TRÀ MỘT CÁCH KHOA HỌC

1

Posted by kelangthang | Posted in Dinh Dưỡng - Ẩm Thực, Sức Khỏe Quý Như... Vậy đó | Posted on 14-10-2010

1. Sau khi thức dậy nên uống một tách trà thanh đạm

Vì sau một đêm dài cơ thể đã tiêu hao một lượng nước đáng kể, uống một tách trà thanh đạm vào buổi sáng, không những kịp thời bổ sung lượng nước mà còn có thể hạ huyết áp. Nhất là người cao tuổi, sau khi thức dậy vào sáng sớm, uống một tách trà thanh đạm, sẽ có lợi cho sức khỏe. Lý do phải pha trà thanh đạm, là để tránh màng lót dạ dày bị tổn hại.

2. Sau khi ăn nhiều dầu mỡ nên uống trà

Protein trong những thức ăn nhiều dầu mỡ thường rất phong phú, thời gian tiêu hóa chậm khoảng bốn tiếng đồng hồ, vì thế sau khi ăn sẽ không thấy đói. Thức ăn tồn tại quá lâu trong dạ dày, sẽ làm cho chúng ta cảm thấy khát nước. Lúc này uống trà đậm sẽ có lợi trong việc nhanh chóng đưa thức ăn vào đường ruột, làm cho dạ dày dễ chịu hơn. Nên uống trà nóng và không quá nhiều, nếu không sẽ làm loãng dịch dạ dày, ảnh hưởng đến tiêu hóa.

3. Sau khi ăn mặn nên uống trà

Ăn mặn không có lợi cho sức khỏe, nên nhanh chóng uống trà để lợi tiểu, bài tiết lượng muối dư thừa. Uống trà, nhất là loại trà xanh có hàm lượng catechins cao, có thể ức chế sự hình thành những chất dẫn đến ung thư, tăng cường khả năng miễn dịch.

4. Sau khi ra nhiều mồ hôi nên uống trà

Lao động thể lực quá sức và làm việc trong nhiệt độ cao, sẽ tiết ra lượng mồ hôi rất lớn, lúc này uống trà có thể nhanh chóng bổ sung lượng nước cho cơ thể, giảm nồng độ của máu và sự đau nhói của bắp thịt, từng bước loại trừ cảm giác mệt mỏi.

5. Làm việc trong hoàn cảnh bức xạ nên uống trà

Công nhân khai thác quặng mỏ, bác sĩ y tá làm việc trong bộ phận chụp X quang, người làm việc thường xuyên trước máy tính hay ngồi xem tivi trong một thời gian dài và những ai làm việc với máy photocopy nên uống trà. Vì những công việc trên ít nhiều bị tác dụng bức xạ, trà có tác dụng chống bức xạ nhất định, uống trà thường xuyên có lợi trong việc phòng hộ.

6. Những người làm việc về khuya và lao động trí óc nên uống trà

Trong trà có caffeine, giúp cho đầu óc tỉnh táo, vì thế nhà văn, học giả và người hoạt động trí óc vào ban đêm nên uống trà, sẽ có lợi cho hoạt động tư duy, tăng cường trí nhớ, nâng cao hiệu quả công việc.

7. Ca sĩ và người thuyết trình nên uống trà

Làm việc một thời gian dài với cổ họng của mình, nên nhấp những ngụm trà để dưỡng cổ họng và thanh quản, cũng có thể phòng chống bị khàn giọng và xảy ra tình trạng viêm họng.

8. Người hút thuốc nên uống trà

Người hút thuốc nên thường xuyên uống trà, chủ yếu có bốn lợi ích:

(1) Giảm nguy cơ bị ung thư do hút thuốc: Hàm lượng catechins trong trà có thể ức chế chất Freeradical do thuốc lá gây ra, phòng ngừa khối u.

(2) Có thể giảm nhẹ ô nhiễm bức xạ do hút thuốc: Chất catechins và lipoxygenase trong trà có thể giảm nhẹ sự gây hại của bức xạ đối với cơ thể con người, có tác dụng bảo vệ chức năng tạo máu. Kết quả của những lần thí nghiệm cho thấy, dùng trà để trị bệnh bức xạ nhẹ do phóng xạ gây ra hiệu quả của nó đạt đến 90%.

(3) Phòng chống bạch nội chướng phát sinh do hút thuốc: Hút thuốc là kẻ thù lớn trong việc làm tổn hại mắt, thúc đẩy phát sinh bạch nội chướng. Carrotere trong trà cao hơn gấp nhiều lần so với rau cải và trái cây thông thường, Carrotere không chỉ có tác dụng phòng chống bạch nội chướng và bảo vệ mắt, đồng thời còn có thể ngừa ung thư, giải độc thuốc lá.

(4) Bổ sung vitamin C bị tiêu hao khi hút thuốc: Vitamin C trong trà khá phong phú, nhất là trà xanh, người hút thuốc uống trà xanh có thể hấp thu lượng vitamin C thích hợp, đặc biệt là khi bạn kiên trì dùng trà xanh, hoàn toàn có thể bổ sung sự thiếu hụt vitamin C do hút thuốc gây ra, duy trì được trạng thái cân bằng, loại trừ chất Freeradical, tăng cường khả năng đề kháng của cơ thể.

9. Người bị bệnh tiểu đường nên thường xuyên uống trà

Triệu chứng của bệnh tiểu đường là đường huyết quá cao, khát nước, mất sức. Uống trà có thể hạ đường huyết một cách hiệu quả, có tác dụng giải khát và tăng cường thể lực. Bệnh nhân thông thường nên uống trà xanh, lượng trà có thể tăng dần một ít và pha uống mấy lần trong một ngày.

10. Khi tháo dạ (tiêu chảy) nên uống trà

Tháo dạ rất dễ làm cho cơ thể thiếu nước, uống nhiều trà đậm, hóa chất hỗn hợp trong trà có thể kích thích màng lót dạ dày, giúp hấp thu lượng nước nhanh hơn so với uống nước thông thường, nhằm nhanh chóng bổ sung lượng nước cần thiết cho cơ thể.

Đặc biệt, không nên uống trà đá. Không nên uống trà để nguội sau 3 tiếng. Hai thứ đó có chất gây hại cho bao tử.

(Sưu tầm, ai biết tác giả, vui lòng chỉ giúp. Xin cảm ơn!)

Nước ép ngũ quả – Bài thuốc hay

0

Posted by kelangthang | Posted in Dinh Dưỡng - Ẩm Thực | Posted on 27-09-2010

Bài thuốc này dễ thực hiện, dễ uống. Giúp chống lão hóa, tăng đề kháng, chống lại các bệnh thông thường, tăng khả năng tiêu hóa thức ăn…

- 2 bẹ cần tây
- 1 trái bom (táo)
-1/2 trái khổ qua (mướp đắng)
-1/2 trái dưa leo
- 1/2 trai ớt chuông

Tất  cả cho vào máy, ép  lấy nước uống vào trước bữa ăn sáng 30 phút.

NUÔI TRỒNG NẤM MÈO (MỘC NHĨ)

0

Posted by kelangthang | Posted in Dinh Dưỡng - Ẩm Thực | Posted on 25-09-2010

Tên gọi: Nấm tai mèo hay nấm mèo (miền Nam), mộc nhĩ (miền Bắc)

Tên khoa học: Auricularia polytricha (Mount.) Sacc. = mèo lông

Auricularia auricula (Hook.) Undrew. = mèo trơn

I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG

Tên gọi:             Nấm tai mèo hay nấm mèo (miền Nam), mộc nhĩ (miền Bắc)

Tên khoa học: Auricularia polytricha (Mount.) Sacc. = mèo lông

Auricularia auricula (Hook.) Undrew. = mèo trơn

Phân bố : Vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới

Hình thái quả thể: Tai nấm có dạng một vành tai, thường không cuống, mềm mại khi còn tươi  và cứng dòn khi phơi khô. Mặt trên mũ có lông dày, mỏng hoặc không lông. Màu sắc biến đổi từ trắng, cam, nâu, tím và đen.

Giá thể tự nhiên:  Gỗ mục, các nguyên liệu có chất xơ.  Tai nấm mèo phát triển qua bốn giai đoạn và được gọi tên theo hình dạng quả thể

Nấm mèo (hay nấm tai mèo) có tên khoa học là Auricularia, thuộc lớp nấm Đảm (Basidiomycetes). Theo Lowry (1951), có tất cả 10 loài nấm mèo. Tùy loài, có loài cần nhiệt độ nóng. Thí dụ: ba loài A. delicata, A. tenuis, A. emini, chỉ mọc ở vùng nhiệt đới (tropics), ba loài khác, A. mesenterica, A. ornata và A. polytricha có thể mọc được ở hai vùng nhiệt độ: nhiệt đới và cận nhiệt đới (subtropics), nhưng A. polytricha có nhiệt độ thấp tối thích là 27oC và A. mesenterica, ngoài nhiệt độ thấp (topt = 25oC), còn cần ẩm độ cao. Hai loài A. cornea và A. fuscosuccinea có khả năng thích nghi một cách linh động đối với nhiệt độ, tuy nhiên, A. fuscosuccinea lại thích hợp với nhiệt độ cao (32oC). Loài A. auricula lại thích hợp với nhiệt độ ôn hoà, chỉ nuôi trồng được ở vùng cận nhiệt đới.

Nấm mèo là nấm nhiệt đới, thích hợp với điều kiện khí hậu ở nước ta, đồng thời sản  phẩm bảo quản chủ yếu bằng cách phơi khô, nên từ lâu nấm mèo được nhiều người nuôi trồng, thậm chí hình thành những làng chuyên canh loại nấm này.

Nấm mèo trồng phổ biến ở các tỉnh phía Nam là nấm mèo lông (A.  polytricha). Tai nấm dày, dễ nuôi trồng và năng suất tương đối cao. Theo X.C. Luo (1993), ở Trung quốc, năng suất bình quân của nấm mèo lông là 70- 80% nấm tươi trên trọng lượng khô, nếu tính ra nấm khô là 10- 11% so với nguyên liệu, nghĩa là bịch phôi  1,5 kg (1 kg mạt cưa và 0,5 kg nước), sẽ thu được 100- 110g nấm khô.

II. Nguyên liỆu

Nấm mèo có thể nuôi trồng trên nhiều loại nguyên liệu khác nhau, như: rơm rạ, bã mía, bông thải, mạt cưa, gỗ khúc… Tuy nhiên, năng suất nấm trên các nguyên liệu gỗ vẫn cao hơn hẳn.

Gỗ trồng nấm mèo thường là gỗ cây lá rộng, có nhựa, nhưng không chứa tinh dầu. Qua so sánh, cho thấy nấm mèo mọc tốt trên mạt cưa cây Bọ chét (Leucoena leucocephala). Dân các tỉnh đồng bằng phía Nam  sử dụng chủ yếu là các cây vườn, như : Mít (Artocarpus heterophyllus), Xoài (Mangifera indica), Mãng cầu ta, xiêm (Annona squamosa, A. Muricata), Còng (Samanea saman), Sung (Ficus racemosa), Gòn (Ceiba pentandra), So đũa (Sespania grandifora)…Ở miền Trung, sử dụng nhiều các loại cây rừng và cây vườn cho trồng nấm , như Cóc rừng (Lannea coromadelica), Mít (Artocarpus heterophyllus)… Miền Bắc có thể trồng thêm trên các loại cây, như: cây Da cao su hay Da búp đỏ (Ficus elastica), cây Ngái (Ficus hispida), cây Vả (Ficus auriculata), cây Bồ đề (Ficus religiosa), cây Si (Ficus benjamina), cây Phượng vĩ  (Delonia regia)….

III. MÙA VỤ CỦA NẤM MÈO

Phần lớn những nhà trồng ở Trung và Nam Đài loan bắt đầu trồng nấm mèo vào tháng 8 hoặc tháng 9 và chấm dứt vào tháng 2 năm tiếp theo (khoảng năm đến sáu tháng).

Ở Việt nam, đặc biệt các tỉnh phía nam có thể trồng nấm mèo quanh năm. Tuy nhiên, hiện nay, ở một số tháng, như từ tháng 2 đến tháng 6, năng suất nấm giảm và dễ phát sinh bệnh, nên người trồng thường tránh các tháng này để khỏi bị thiệt hại.

Như vậy, thật sự nấm mèo bắt đầu vào vụ (nuôi trồng nhiều), chỉ từ khoảng tháng 8 đến tháng 2 năm sau (tương tự như  ở  Đài loan).

Vùng phát triển nấm mèo mạnh và tương đối ổn định là Long Khánh tỉnh Đồng Nai, với sản lượng trung bình 1000- 1200 tấn nấm khô/ năm.  Ở TP. Hồ chí Minh, có nhiều huyện trồng nấm mèo tương đối lâu và phong trào khá mạnh, như: Hốc Môn, Thủ Đức, Củ Chi… sản lượng khoảng 100 – 150 tấn nấm khô/ năm. Ngoài ra, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cũng đang phát triển mạnh việc nuôi trồng nấm mèo, như Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang, Trà Vinh…, sản lượng đạt  khoảng 100 tấn nấm khô/ năm. Như vậy, nếu tính cả số nấm nuôi trồng rãi rác ở các tỉnh khác của phía Nam, bao gồm một vài tỉnh miền Trung, thì tổng sản lượng nấm mèo nuôi trồng hiện nay khoảng 1500 tấn nấm khô/ năm (so với tổng sản lượng nấm trên thế giới chiếm khoảng 11%).

IV. TRỒNG NẤM MÈO BẰNG TÚI MẠT CƯA

Phương pháp này sử dụng nguyên liệu chính là mạt cưa, nên dễ đóng túi theo kích thước mong muốn và có thể bổ sung thêm dinh dưỡng cần thiết cho nấm. Túi cơ chất sau đó, được thanh trùng ở nhiệt độ thích hợp, nên ít bị tạp nhiễm.

Qui trình trồng trên mạt cưa có thể tóm tắt như sau:

(*)  Có thể có hoặc không, nếu bổ sung thêm : N-P-K (15-30-15), Urê, DAP, SA liều lượng không quá 5%o, MgSO4 1-2%o.

(**) Cần bổ sung cho nấm. Chất dinh dưỡng thêm vào, có thể là bã mía (tỉ lệ 20%) hoặc cám (tỉ lệ 6%); ngoài ra, cần thêm các thành phần đạm (N-P-K, urê…), khoáng (KH2PO4, MgSO4…) liều lượng tương tự đối với mạt cưa cao su.

Tuy nhiên, do qua nhiều khâu, nên giá thành của bịch cao và người trồng phải có số vốn ban đầu tương đối khá mới làm được. Thí dụ, muốn trồng 1000 bịch nấm mèo phải có ít nhất hai triệu đồng (chưa kể mặt bằng và nhà trại).

Ngoài ra, trong quá trình nuôi trồng trên mạt cưa cần lưu ý một số điểm sau:

- Để tránh nhiễm tạp: mạt cưa nên sàn hoặc rây, nhằm loại bỏ các vâm bào, gỗ vụn, làm khử trùng không tốt. Chất dinh dưỡng bổ sung, như cám hoặc bắp, nếu thô (to hạt), nên làm ẩm trước. Thanh trùng theo đúng qui trình, gồm nhiệt độ và thời gian

.

- Để giữ chất lượng dinh dưỡng cơ chất: mạt cưa tốt nhất là đừng bị nhiễm mốc trước. Quá trình ủ nguyên liệu dài ngày, nếu muốn vi sinh vật có thể lên men đống ủ, nên hạ lượng vôi ban đầu xuống (0,5%, thay vì 1% cho quá trình ủ ngắn). Nếu thời gian ủ dài, cần định kỳ đảo trộn. Dinh dưỡng trộn vào, nên đóng bịch, khử trùng, để nguội  và cấy giống ngay.

- Để cho tơ nấm mọc tốt: cần bổ sung thêm dinh dưỡng, trong đó cân đối nguồn đạm thích hợp cho nấm. Thí dụ, tỉ lệ C/N (Carbon/ Nitơ) của nấm mèo là 35, trong khi tỉ lệ C/N của mạt cưa cao su trên 56. Do đó, theo nguyên tắc là phải thêm đạm vào nguyên liệu trồng nấm. Ngoài ra, nấm cần nhiều nguyên tố khoáng cho sự tăng trưởng của nó, như: P, K, Ca, Mg…. Bên cạnh yếu tố dinh dưỡng, điều kiện nuôi ủ cũng rất quan trọng, như  độ thông thoáng, nhiệt độ hạ (28o- 30 oC) … giúp tơ nấm phát triển tốt,  ít bệnh.

V. KHỬ TRÙNG CƠ CHẤT TRỒNG NẤM MÈO

Nguyên liệu trước khi cấy giống cần khử trùng để diệt các mầm bệnh có thể hại nấm. Để việc làm này có kết quả, cần có sự phối hợp của ba yếu tố:

- Chất lượng nguyên liệu sử dụng: nguyên liệu cũ, bị mốc, kích thước không đồng đều, thành phần phức tạp, thiếu ẩm… sẽ khó khử trùng hoặc phải khử trùng kỹ hơn. Ngoài ra, nếu bao bì bị bám bẩn, ở miệng hoặc vỏ bọc bên ngoài, nút bông bị ướt… đều dễ phát sinh nhiễm tạp.

- Chế biến và ủ đống nguyên liệu: nguyên liệu trộn thêm các chất có tác dụng khử trùng như vôi, thuốc tím (Permanganat Kali – KMnO4)… giúp hạn chế một phần mầm bệnh. Trong quá trình ủ, nhiệt độ đống ủ tăng cao (60o- 80oC), cũng góp phần diệt nhiều vi sinh vật có hại. Quá trình ủ cũng làm nguyên liệu hút ẩm đồng đều hơn, cũng tạo nhiều thuận lợi cho việc khử trùng.

- Cách thức khử trùng: phương pháp khử trùng phổ biến hiện nay là dùng nhiệt ẩm (có hoặc không có áp suất) và cần  thiết bị tương ứng. Dù phương pháp nào cũng đều phải đảm bảo nhiệt độ và thời gian khử  trùng thích hợp. Một vài nơi còn sử dụng thùng phuy, nắp đậy được làm bằng nhựa và bao bố ướt. Nhiệt độ các nồi này thường không cao, khoảng 85- 90oC, do đó, phải kéo dài 5 – 6 giờ.Nhiều nơi khác, hệ thống nấu dùng chảo có vỏ bọc bằng tôn, sắt, xi măng … dạng hình khối hộp, cửa mở ra trước mặt. Nhiệt độ nồi thường không cao, khoảng 95o- 100oC, thời gian hấp từ 3-4 giờ.

Khu vực Long Khánh còn làm nồi khối tròn, có nắp đậy và ốc vặn chắc chắn, nhưng  nhiệt độ sử dụng khoảng  105oC  trong 2 giờ 30 – 3 giờ.

VI. TRỒNG NẤM MÈO NHƯ THẾ NÀO CHO CÓ NĂNG SUẤT

Năng suất nấm lệ thuộc bởi nhiều yếu tố, bao gồm:

- Giống nấm.

- Thành phần dinh dưỡng.

- Điều kiện nuôi ủ và chăm sóc.

- Phòng bệnh.

1. Meo giống nấm

Muốn nâng năng suất nấm mèo, trước tiên phải có nguồn giống cung cấp tin cậy, còn lại là tùy thuộc kỹ thuật người trồng.

2. Dinh dưỡng cho nấm

Liên quan đến loại mạt cưa (loại gỗ) và thành phần thêm vào. Thành phần này có thể cung cấp ngay từ lúc trộn nguyên liệu, nhưng cũng có thể bổ sung thêm vào giai đoạn  phát triển của quả thể. Dinh dưỡng trộn thêm vào nguyên liệu có thể là phân bón hoá học hoặc 1%  đường ăn hoặc khoáng như  Kali, Phosphat, Magnê… .  Ngoài ra, nhiều loại phân bón lá, như  N-P-K, Komix, Bimix, HVP… đều có thể dùng để tưới bổ sung cho nấm. Urê dùng tưới nấm rất tốt, nhưng khi phát sinh bệnh, nhất là mốc, phải ngưng ngay.  Tuy nhiên, quan trọng vẫn là khâu chế biến và ủ nguyên liệu. Nguyên liệu chuẩn bị tốt năng suất chắc chắn sẽ cao.

3. Điều kiện nuôi

Góp phần đáng kể trong việc nâng năng suất nấm. Nếu trong thời gian ủ tơ, nhiệt độ lên cao hoặc xuống thấp quá, cũng làm ảnh hưởng đến kết quả nuôi trồng, đặc biệt trong tình trạng thiếu oxy, tơ bị ngộp, tiết nước, năng suất giảm nhanh. Do đó, bịch nuôi ủ nên để thoáng, mật độ vừa phải, có cửa sổ để  gió lùa vào  phòng  làm  giảm  nhiệt  độ, nhưng  tránh nắng rọi trực tiếp . Khi tơ đã lan đầy bịch, bắt đầu chuyển sang giai đoạn tưới đón nấm. Giai đoạn này có nhiều vấn đề phải giải quyết:

- Nên treo bịch hay xếp kệ?

- Rạch bịch như thế nào?

- Lúc nào bắt đầu tưới và tưới ra sao

- Nấm như thế nào thì thu hái được?

Phổ biến hiện nay người nuôi trồng vẫn thích treo hơn để dàn kệ, vì đở tốn kém và dễ vệ sinh. Trong trường hợp ở nhà vườn, có thể kết hợp nuôi trồng nấm mèo dưới các tán cây, để giảm một phần chi phí xây dựng. Bịch treo thành từng xâu 5- 6 bịch, chiều cao không nên quá 1,6m, để dễ quan sát và chăm sóc.

Để cho nấm “ có chỗ chui ra “, trên thành bịch phải rạch thành nhiều đường. Đường rạch không cần lớn, chỉ cần dài khoảng 2 cm, nhưng gồm nhiều đường (12- 15 đường), theo nhiều hướng xung quanh thành bịch. Đường rạch cần đủ rách bao nylon, không phạm sâu vào khối mạt cưa có tơ nấm.

Sau khi, rạch khoảng sáu giờ là có thể tưới nước. Lúc này vết thương của tơ nấm ở các vết rạch đã có thể lành lặn. Đồng thời, nước tưới sẽ làm tăng ẩm độ và giảm nhiệt độ, kích thích nấm kết quả thể tốt hơn.

Khi thịt nấm đã hình thành ở các lỗ rạch (dạng con sâu), cần giữ ẩm tốt  để quả thể phát triển bình thường. Nấm sẽ chuyển qua các giai đoạn của quá trình phát triển và trưởng thành, bìa mép mỏng dần và bắt đầu có hiện tượng dợn sóng là đến thời điểm thu hái. Thường người ta bón thêm dinh dưỡng vào lúc nấm dạng tách, để kích thích nấm tăng trưởng nhanh, hoặc tưới urê vào lúc nấm dạng dĩa,  để tăng trọng lượng quả thể và làm màu sắc nấm đẹp hơn.

4. Phòng bệnh

Là vấn đề lớn hiện nay, nhất là khi phong trào trãi rộng, nhà nhà trồng nấm. Với số lượng bịch nuôi trồng lớn và  trồng  quanh năm, nếu  không có  biện pháp phòng bệnh tốt, thì khó đạt được kết quả. Việc phòng bệnh bao gồm: – Chọn giống khoẻ

- Xử  lý và khử trùng tốt nguyên liệu.

- Giữ  môi trường nơi nuôi trồng thật vệ sinh. Nên rửa bịch trước khi rạch 2 giờ.

- Hạn chế sử dụng thuốc sát trùng trực tiếp lên nấm. Chỉ  nên  phun  thuốc  trừ  sâu  bệnh trước và sau khi nuôi trồng.

- Nên phân lô (bịch tốt, bịch xấu) để tiện chăm sóc

Có thể tóm tắt những việc nên làm vào không nên làm, khi nuôi trồng nấm mèo.

NÊN LÀM

NÊN TRÁNH

Chọn giống tốt Meo giống không rõ nguồn gốc
Nuôi ủ tơ (bịch phôi) nơi thoáng, có ánh sáng nhẹ (không chiếu nắng). Chồng chất bịch hoặc treo dày quá khi ủ (nấm bị ngộp, nhiệt độ tăng) hay tối quá (dễ phát sinh bệnh).
Thêm dinh dưỡng hoặc phân bón vào nguyên liệu. Thêm hoá chất hoặc thuốc trừ sâu vào bịch phôi (để phòng bệnh)
Tưới nước sau khi rạch bịch 6 giờ, để hạ nhiệt và tăng ẩm độ, kích thích nấm kết quả thể. Tưới nước ngay sau khi rạch hoặc để quá lâu (ba đến năm ngày), nấm yếu, dễ phát sinh bệnh.
Bón thêm dinh dưỡng cho nấm khi ra tai, để tăng năng suất. Nấm thiếu dinh dưỡng (sẽ kéo dài quá trình ra tơ và thu hoạch)
Phun thuốc phòng bệnh nhàtrồng trước và sau khi đưa nấm vào tưới. Phun thuốc bừa bãi trong lúc chăm sóc và tưới nấm, trừ khi phát sinh bệnh,  nên diệt tập trung.

Hiện nay, với một bịch 1,5 kg có thể thu được trung bình từ 70- 90g nấm mèo kh

Tóm lại, cần đảm bảo các điều kiện phù hợp với nhu cầu cho nấm và vệ sinh công nghiệp, thì mới thu được kết quả tốt nhất.

VII. NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN THẤT BẠI KHI TRỒNG NẤM MÈO

Nấm mèo cũng giống như các ngành nông nghiệp (chăn nuôi và trồng trọt) khác, nếu không có những hiểu biết và chuẩn bị tốt, thì vẫn có thể bị thất bại. Nguyên nhân thất bại có thể  do các lý do sau:

- Giống thoái hoá, nhiễm tạp, tai nấm nhỏ, năng suất kém. Do đó, tốt nhất nên chọn nơi có nguồn giống tin cậy để mua.

- Nguyên liệu khử trùng không tốt, chổ ủ nóng và không vệ sinh, hoặc đôi khi do sơ ý, cấy giống vào khi bịch còn nóng. Làm tỉ lệ bịch hư hỏng cao.

Bịch phôi trong giai đoạn ủ tơ, nếu để chồng lên nhau hoặc chổ ủ không thông thoáng (bí hơi), nhiệt độ tăng cao, nắng chiếu trực tiếp… tơ đổ mồ hôi, tiết nước vàng. Đường rạch trên bịch quá dài, tưới nước giọt lớn, cũng là nguyên nhân làm năng suất nấm giảm và tuổi thọ bịch rút ngắn lại.

- Dịch bệnh làm thất thu. Quá trình rạch bịch, nếu nơi treo nóng và khô, lại chậm tưới nước dễ phát sinh bệnh trứng (nhện mạt hay mites). Nhà trồng hoặc ủ, không vệ sinh hoặc gần trại gà, trại heo, thì dịch bệnh cũng có thể phát sinh và lây lan.

Tóm lại, so với chăn nuôi và trồng trọt, thì trồng nấm là tương đối nhàn hạ hơn, nhưng phải có những hiểu biết nhất định thì mới thu hái được kết quả tốt nhất.

VIII.  BỆNH Ở NẤM MÈO VÀ CÁCH KHẮC PHỤC

Cũng giống như nấm rơm, nấm mèo có thể bị một trong hai loại bệnh chính:  bệnh sinh lý và bệnh nhiễm.

1. Bệnh sinh lý

Nấm mèo có thể biểu hiện một số bệnh không do nhiễm khuẩn như: tơ thưa, sợi nấm mãnh, đầu hơi uốn khúc hoặc cuộn lại; tai nấm tạo cuống dài, kết chùm bông cải, tai khô cứng, đổi màu sậm hoặc màu nhạt, mỏng manh, mau già… Các biểu hiện trên thường liên quan đến yếu tố môi trường, như nơi trồng bị yếm khí (ngộp), nước tưới bị phèn, bị chua, nhiệt độ cao, thiếu ánh sáng, bị lạnh đột ngột..

2. Bệnh nhiễm

Phổ biến là do vi khuẩn, nấm bệnh… Tuy nhiên, côn trùng, tuyến trùng và nhện mạt (mites) cũng là đối tượng gây thất thu nặng, chúng ăn và cắn phá tơ nấm, lây nhiễm vi khuẩn, nấm mốc… Có thể diệt chúng bằng các thuốc diệt côn trùng, ruồi, muỗi, như : DDVP 2%, Azodrin 1%, nhiều nơi còn dùng Kelthan (Dicofol) 18,5%, Endosulfan (Thiodan) 2,5%, Karate 0,05- 0,07%, Trebon 10ND…

Đối với tuyến trùng, sử dụng Formalin (Formol) 0,2- 0,3%, Furadan 3H, Mocap…

Đối với nấm mốc ký sinh lên nấm mèo, có thể dùng các thuốc diệt, như Bennomyl (Benlate – C) 0,1-0,2%, Sulfat sắt  0,02%, Macozeb (Dithane, Maneb), Zineb (Tritofboral) 7%…

Đối với trường hợp nhiễm khuẩn (vi khuẩn) hoặc nấm nhầy (myxomyces), có thể dùng Chlorin (Hypoclorid Ca) 0,04- 0,05%, thuốc tím (KMnO4), Formol 0,2%…

Tóm lại, nấm có thể bị nhiều bệnh khác nhau, nhưng tùy trường hợp nặng, nhẹ, lây lan hay không, mà có biện pháp phòng trừ thích hợp. Tuy nhiên, biện pháp dùng hoá chất vẫn không phải là tốt nhất đối với môi trường, do đó, chỉ dùng khi nào thật cần thiết. Để tránh bệnh cho nấm, căn bản vẫn là vệ sinh môi trường, giống gốc mạnh, dinh dưỡng đầy đủ và điều kiện nuôi ủ thích hợp.

(Theo Agri export – Lê Duy Thắng – Đại học Khoa học Tự nhiên TP. HCM)

Nấm Tiên

0

Posted by kelangthang | Posted in Dinh Dưỡng - Ẩm Thực | Posted on 25-09-2010

Nấm Tiên

Nấm Tiên

Nấm Tiên có hình dáng rất giống với cổ tay người con gái, trắng và ưa nhìn. Nấm Tiên có tác dụng rất tốt cho tiêu hóa và làm đẹp làn da. Đặc biệt, ngoài dùng làm lẩu, nấm Tiên được dùng làm món xào có mùi vị thực sự tuyệt ngon.

Nấm Gan bò sữa đỏ

0

Posted by kelangthang | Posted in Dinh Dưỡng - Ẩm Thực | Posted on 25-09-2010

Nấm gan bò sữa đỏ có màu đỏ tươi, mùi thơm nhẹ nhàng, vị ngon ngọt, có chứa nhiều protein, chất béo, đường và nhiều loại axitamin, protein khác.

Nấm Gan bò mĩ vị

0

Posted by kelangthang | Posted in Dinh Dưỡng - Ẩm Thực | Posted on 25-09-2010

Nấm gan bò mĩ vị nổi tiếng từ rất lâu trên thế giới. Nấm gan bò mỹ vị đặc biệt được ưa dùng ở các quốc gia châu Âu như Ý, Pháp, Đức, Thụy Sỹ…

Loại nấm này khá lớn, thịt nấm dày, béo, mùi thơm, vị hơi ngọt. Không những ăn ngon mà chúng có tác dụng thanh nhiệt giải độc, dưỡng huyết truy phong tán hàn, chống suy nhược rất tốt.

Nấm Kê tùng

0

Posted by kelangthang | Posted in Dinh Dưỡng - Ẩm Thực | Posted on 25-09-2010

Nấm kê tùng còn gọi là nấm gà thông. Được mệnh danh là vua của các loại nấm, ăn ngon như thịt gà, nấm kê tùng có chất thịt béo, non, giòn, xưa nay rất được ưa dùng. Hàm lượng dinh dưỡng trong nấm rất phong phú: cứ 100g nấm thì có tới 22,8g protein, 42,7g canxihydroxit, 23g canxi, tạo nhiệt lượng khoảng gần 300g kcal, ngòai ra thịt nấm còn chứa nhiều chất bổ dưỡng khác.

Nấm Gan bò tía

0

Posted by kelangthang | Posted in Dinh Dưỡng - Ẩm Thực | Posted on 25-09-2010

Nấm gan bò tía có nét đặc biệt là thịt nấm vốn màu vàng hơi đỏ nhưng khi bị cắt thì chuyển sang màu xanh. Loại nấm này có thịt dày, béo, mùi vị thơm ngon. Ngoài các giá trị dinh dưỡng cao, nó còn có tác dụng khống chế và triệt tiêu các mầm bệnh ung thư đạt tới tỷ lệ 99%.

Nấm Bụng dê

0

Posted by kelangthang | Posted in Dinh Dưỡng - Ẩm Thực | Posted on 25-09-2010

Vào độ cuối xuân, đầu hạ và khi chuyển tiết thu, trong những rừng cây lá rộng, những bụi cỏ ven rừng hay ven sông, người ta thường bắt gặp một loại nấm hình cầu, thân dài, bề mặt có rất nhiều miếng lõm nhỏ, nhìn giống như bụng dê nên thường gọi là nấm bụng dê.

Loại nấm này có mùi thơm dễ chịu, thịt nấm non, mềm có vị ngon nổi tiếng trên thế giới, là một trong những loại vật phẩm quý của các Nhật Hoàng.

(Theo Ashima)